Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

Có Đòi Được Đất Khi Người Chiếm Giữ Đã Bán Lại Cho Người Thứ Ba?

Trong các giao dịch về quyền sử dụng đất, việc chủ sở hữu giao quyền sử dụng đất cho một người khác giữ, quản lý xảy ra rất phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người chiếm giữ này lại chuyển nhượng (bán) đất cho người thứ ba khác. Sau đó, chủ sở hữu quay lại đòi đất đã giao cho người chiếm giữ. Vấn đề đặt ra là, chủ sở hữu có đòi được đất khi người chiếm giữ đã bán lại cho người thứ ba?
Chủ sở hữu có đòi được đất khi người chiếm giữ đã bán lại cho người thứ ba? (ảnh: Internet)
Các điều kiện để việc mua bán đất có hiệu lực là gì?
Việc chuyển nhượng đất giữa người chiếm hữu và người thứ ba mà nằm ngoài ý chí của người có quyền sử dụng đất sẽ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Người có quyền sử dụng đất có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, không phải trong tất cả các trường hợp thì họ đều có thề đòi lại đất được mà phải xét xem việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chiếm hữu và người thứ ba có hiệu lực hay không.
Cụ thể, để giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực thì cần phải đáp ứng đủ tất cả các điều kiện sau:
Thứ nhất: chủ thể chuyển nhượng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, một trong những điều kiện để được chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, pháp luật dân sự cũng quy định chỉ chủ sở hữu mới có quyền định đoạt tài sản của mình, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo đó, người chiếm giữ chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác là người đứng tên trên giấy chứng nhận hoặc được nhận ủy quyền về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong trường hợp người chiếm giữ không phải là người đứng tên trên giấy chứng nhận và cũng không được ủy quyền về việc chuyển nhượng thì việc chuyển nhượng là không đúng với quy định của pháp luật.
Thứ hai, về hình thức:
Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được thể hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật và phải được công chứng hoặc chứng thực. Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013).
Thứ ba, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
Thứ tư, đã được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp không có đầy đủ một trong các điều kiện trên thì việc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ không hoặc chưa có hiệu lực.
Có đòi được đất không khi giao dịch mua bán quyền sử dụng đất giữa người chiếm giữ và người thứ ba chưa hoặc không có hiệu lực?
Không có quyền đòi lại đất khi đã bán cho người thứ ba ngay tình (ảnh: Internet)
Khi giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chiếm hữu và người thứ ba không đáp ứng đủ các điều kiện trên thì sẽ không có hiệu lực hay nói cách khác là giao dịch này đã bị vô hiệu. Trong trường hợp này, người sử dụng đất có quyền đòi lại đất của mình theo quy định của pháp luật.
Và việc người thứ ba này có trách nhiệm phải trả lại đất cho chủ sở hữu, người sử dụng đất hợp pháp.
Có đòi được đất không khi giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chiếm hữu và người thứ ba có hiệu lực?
Trong trường hợp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chiếm hữu và người thứ ba có hiệu lực thì người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ theo quy định của pháp luật dân sự, cụ thể khoản 2, 3 Điều 133 BLDS 2015 quy định như sau:
Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
Đây là các trường hợp pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thứ ba ngay tình, khi mà người này không hề biết được người đang chiếm giữ đó không phải là chủ sở hữu, họ đã mua lại miếng đất đó và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Lúc này, không thể buộc họ phải trả lại đất, như vậy là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, chủ sở hữu không đòi lại đất được từ người thứ ba ngay tình này.
Chủ sở hữu cần làm gì khi không đòi lại đất được từ người thứ ba ngay tình?
Trong trường hợp chủ sở hữu không đòi lại được đất từ người thứ ba ngay tình thì pháp luật vẫn có cơ chế để bảo vệ chủ sở hữu. Theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015: “Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại”.
Do đó, chủ sở hữu có quyền khởi kiện người đã chiếm giữ tài sản của mình và yêu cầu người này phải hoàn trả lại các chi phí và bồi thường thiệt hại.
Trên đây là toàn bộ nội dung ài viết về vấn đề “Có đòi được đất khi người chiếm giữ đã bán lại cho người thứ ba?” Trong trường hợp bạn đọc có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn thêm các vấn đề liên quan đến đất đai, vui lòng để lại thông tin tại đây hoặc liên hệ Luật sư để được hỗ trợ.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

Cướp Và Cướp Giật Tài Sản Khác Nhau Chỗ Nào?


Hiện nay, cướp và cướp giật tài sản xảy ra rất thường xuyên và phức tạp với những thủ đoạn tinh vi của tội phạm khi thực hiện hành vi phạm tội, đặc biệt là đối với những đoạn đường vắng vẻ, không có đèn và ít nhà, đây là nơi lý tưởng của những tên tội phạm này. Hầu hết, khi rơi vào trường hợp là nạn nhân của các vụ cướp hay cướp giật, mọi người đều gọi chung là “cướp”. Nhưng cướp và cướp giật là hai hành vi hoàn toàn khác nhau. Vậy, cướp và cướp giật tài sản khác nhau chỗ nào? Cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây:

Cướp và cướp giật tài sản khác nhau chỗ nào? (ảnh: Internet)
Sơ lược chung về tội cướp và cướp giật tài sản
Cả hai tội cướp và cướp giật tài sản đều nằm trong chương XVI phần các tội xâm phạm sở hữu được điều chỉnh trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự). Theo đó, đây là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm với mọi tội phạm) và có năng lực trách nhiệm hình sự (không phải đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình) thực hiện.
Các tội phạm đều hướng đến mục đích là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản từ người khác như vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền về tài sản.
Cả hai hành vi cướp và cướp giật tài sản đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người gây ra hành vi cướp hoặc cướp giật tài sản, họ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra.
Điểm khác biệt giữa tội cướp và cướp giật tài sản
Căn cứ theo quy định tại Điều 168 (về tội cướp tài sản) và Điều 171 (về tội cướp giật tài sản) Bộ luật hình sự. Có thể đưa ra 03 tiêu chí để phân biệt giữa tội cướp và cướp giật tài sản như sau:
Thứ nhất, xét về mục đích hướng đến của tội phạm:
Đối với hành vi cướp tài sản, mục đích chính người phạm tội hướng đến là tài sản. Nhưng để thực hiện mục đích đó, người phạm tội phải tác động đến người đang quản lý tài sản. Tức là hành vi cướp tài sản phải tác động đồng thời lên hai đối tượng là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Đối với hành vi cướp giật tài sản, đối tượng mà người phạm tội hướng đến chỉ duy nhất là tài sản, đặc biệt là với những tài sản nhỏ gọn (như túi xách, điện thoại di động, laptop, dây chuyền, …) hay những tài sản dễ di chuyển (như xe máy, xe ô tô, …).
Thứ hai, xét về biểu hiện bên ngoài của tội phạm:
Đối với tội cướp tài sản, đây là tội phạm có cấu thành cắt xén. Do đó, hành vi thể hiện cấu thành tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Một điểm khác biệt đó là cướp tài sản thì dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực (ảnh: Internet)
  • Dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào người khác nhằm làm cho người này lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Có nghĩa là hành vi dùng vũ lực phải làm cho nạn nhân không thể chống cự hoặc chống cự nhưng không có kết quả hoặc bị tê liệt ý chí và không giám chống cự. Cụ thể như các hành vi đánh, trói, chém, bắn, …
  • Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc cử chỉ dọa sẽ dùng vũ lực nhằm làm cho nạn nhân không dám chống cự.
  • Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi dùng mọi phương pháp, thủ đoạn khác nhau làm nạn nhân không thể chống cự lại hành vi chiếm đoạt tài sản như cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc mê, gây tê, …

Chỉ cần thực hiện một trong các hành vi trên, cho dù người phạm tội chưa chiếm được tài sản thì tội phạm vẫn được xem là đã hoàn thành.
Trái với tội cướp tài sản, cướp giật tài sản có cấu thành tội phạm vật chất. Tức là tội phạm hoàn thành khi người phạm tội giật được tài sản ra khỏi người đang quản lý tài sản một cách công khai và nhanh chóng. Trong trường hợp người phạm tội bị truy đuổi nên bỏ tài sản để chạy trốn hoặc bị người truy đuổi lấy lại tài sản thì tội phạm vẫn được coi là đã hoàn thành.
Mặt khác, tội cướp giật tài sản không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác khiến người đang quản lý tài sản không thể chống cự được như tội cướp tài sản, mà là lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát, cho dù trong quá trình cướp giật tài sản, có thể người phạm tội có sử dụng sức mạnh xâm phạm đến thân thể của người khác nhưng mục đích là để giật, giành lấy tài sản chứ không nhằm làm cho nạn nhân không thể chống cự được hoặc làm tê liệt ý chí của họ để chiếm đoạt tài sản.
Thứ ba, xét về phản ứng của nạn nhân:
Đối với cướp tài sản, nạn nhân có thời gian và khả năng chống cự lại khi đang dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các hành vi khác xâm hại.
Đối với cướp giật tài sản, nạn nhân hoàn toàn bất ngờ với hành vi xâm phạm của tội phạm và không có thời gian phòng bị.
Ngoài ra, hình thức xử phạt giữa hai tội là khác nhau đã được quy định cụ thể và chi tiết trong Bộ luật hình sự.
Các trường hợp chuyển hóa tội danh giữa cướp và cướp giật tài sản
Trong trường hợp người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản nhưng bị truy đuổi nên đã dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản thì chuyển hóa từ tội cướp giật sang tội cướp tài sản (dù cho dùng vũ lực nhưng vẫn chiếm đoạt không thành).
Các trường hợp chuyển hóa tội phạm của tội cướp và cướp giật (ảnh: Internet)
Trong trường hợp người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản nhưng bị truy đuổi nên đã có hành vi hành hung nhưng không nhằm tái chiếm đoạt mà nhằm tẩu thoát thì vẫn phạm tội cướp giật tài sản nhưng có tình tiết định khung tăng nặng là hành hung để tẩu thoát (theo khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự).
Hy vọng những thông tin trên đây đã giúp mọi người hình dung cơ bản giữa cướp và cướp giật khác nhau chỗ nào. Để phân biệt giữa hai tội danh cướp và cướp giật tài sản, chúng ta cần xét đến đối tượng hướng đến của tội phạm, hành vi biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm (có phải là hành vi công khai; không hay có sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc những hành vi khác khiến nạn nhân lâm vào tình trạng không thể kháng cự được) và phản ứng của nạn nhân khi đó.
Nếu bạn có bất kỳ vấn đề nào cần trao đổi, tư vấn thêm, vui lòng liên hệ tôi hoặc Luật sư để nhận được tư vấn tốt nhất.

Lái Xe Gây Tai Nạn Có Bị Đi Tù Không?


Trong thời gian gần đây, trên địa bàn cả nước, tai nạn giao thông xảy ra là vô số kể, đặc biệt là trong các dịp lễ. Tỷ lệ nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông ở Việt Nam đang lên mức báo động. Theo Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố vào năm 2018, Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á về số người chết do va chạm trên đường, với tỷ lệ 26,1/100.000 người trong năm 2018, có 24.970 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông. Vậy, trong trường hợp người lái xe gây ra tai nạn giao thông thì có bị đi tù không?
Hiện trường một vụ tai nạn giao thông (ảnh: Internet)
Điểm danh sơ bộ về các vụ tai nạn giao thông đáng chú ý hiện nay
Tai nạn giao thông luôn là vấn đề nhức nhối trong xã hội, điều đáng báo động ở đây là số vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày càng nhiều.
Điển hình là vụ tai nạn thảm khốc ở Long An tại ngã tư Bến Lức vào ngày 02/01/2019, đây có thể xem là một vụ tai nạn kinh hoàng. Vào thời điểm đó, một chiếc xe container đã bất ngờ lao vào 25 chiếc xe máy đang chờ đèn đỏ phía trước. Hậu quả thì không thể tưởng tượng nổi viễn cảnh hàng chục xe máy đã bị vỡ nát, biến dạng, các mảnh vỡ văng tứ tung khắp nơi. Tại hiện trường, các nạn nhân thương vong cũng nằm la liệt giữa đường, theo thống kê thì có 04 người tử vong và 18 người bị thương được đưa đi cấp cứu. Theo như kết quả điều tra thì tài xe lái xe dương tính với ma túy và trong cơ thể có nồng độ cồn vượt quá quy định của pháp luật.
Hay một vụ gần đây nhất vào ngày 07/5/2019, một xe container BS 51D - 183.70 đang lưu thông trên đường Nguyễn Văn Bá, hướng ngã tư Thủ Đức. Khi đến giao lộ Nguyễn Văn Bá - đường số 2 (P.Trường Thọ), tài xế container cho xe rẽ phải thì va chạm với xe máy BS 59S2 - 808. 65 do bà T (43 tuổi, ngụ H.Củ Chi) điều khiển chở theo bà N.T (48 tuổi) chạy cùng chiều. Cú va chạm làm cho chiếc xe máy ngã trước đầu container và bị kéo đi một đoạn dài. Hậu quả là bà N.T tử vong tại chỗ, bà Thanh bị thương.
Hay trước đó là vụ lùi xe cao tốc Thái Nguyên, vào sáng ngày 19/11/2016, tài xế S (Yên Phong, Bắc Ninh) lái xe Innova 8 chỗ ngồi chở anh T (quê Bắc Ninh) cùng 9 người thân của anh này đi ăn cưới ở TP Thái Nguyên. Chiều hôm đó, tài xế S (đã có nồng độ cồn) lái xe trên cao tốc, do vượt quá lối ra khỏi cao tốc tại nút giao Yên Bình (thị xã Phổ Yên) nên S cho ôtô đi lùi, sát hàng rào bên phải. Cùng lúc đó thì tài xế H (Đông Hưng, Thái Bình) lái xe đầu kéo kéo theo rơ moóc đi thuận chiều trên cao tốc, tốc độ 60-65 km/h, đến gần nút giao, thấy chiếc Innova phía trước, cách 70m đang bật đèn phanh đỏ, tài xế xe kéo không phanh giảm tốc mà quan sát gương chiếu hậu. Do phía sau có ôtô khác đang vượt lên, H không thể chuyển làn rồi đâm vào đuôi chiếc Innova có 11 người ngồi trên. Hậu quả là khiến 4 người tử vong tại chỗ, 2 nạn nhân khác bị thương. Vụ án này đã được TAND tối cao giải quyết nhưng đã để lại sự nhức nhối cho người dân cho tới bây giờ.
Tai nạn xảy ra một phần do ý thức chấp hành luật của người dân chưa cao (ảnh: Internet)
Việt Nam được coi là quốc gia có tỷ lệ tai nạn giao thông cao nhất thế giới, mỗi ngày đều có khoảng 31 người chết do tai nạn giao thông (số liệu năm 2019). Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng này như sự hiểu biết hạn chế về quy định khi tham gia giao thông, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của người điều khiển giao thông là chưa tốt cụ thể là người điều khiển phương tiện giao thông thường “phóng nhanh” khi sắp tới đèn đỏ, đi trái đường, đi không đúng làn đường quy định. Nghiêm trọng hơn là họ còn sử dụng rượu bia hoặc các chất kích thích khác dẫn đến không thể kiểm soát được tầm nhìn, hành vi của mình. Tất cả những nguyên nhân dù như thế nào, thì đau thương và mất mát lớn nhất vẫn là người bị hại và người thân của họ.
Lái xe gây tai nạn bị đi tù khi nào?
Theo điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự) quy định về tội phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:
Thứ nhất, người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
·        Làm chết người;
·        Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
·        Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
·        Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Thứ hai, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
·        Không có giấy phép lái xe theo quy định;
·        Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
·        Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
·        Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
·        Làm chết 02 người;
·        Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
·        Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
Lái xe gây tai nạn giao thông có thể bị phạt từ 01 đến 15 năm tù (ảnh: Internet)
Thứ ba, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
·        Làm chết 03 người trở lên;
·        Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
·        Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
Thứ tư, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến những hậu quả sau nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
·        Làm chết 03 người trở lên;
·        Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
·        Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
Như vậy, không phải trường hợp nào khi lái xe gây tai nạn giao thông đều bị phạt tù, chỉ khi phạm vào các hành vi có tính chất nguy hiểm cao, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác và hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời mới bị chấp hành hình phạt tù theo Bộ luật hình sự. Đối với những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ khác các trường hợp trên thì tùy vào từng mức độ khác nhau có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo nghị định 46/2016/NĐ-CP và bồi thường thiệt hại theo điều 601 Bộ luật dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.