Hiện nay, cướp và cướp
giật tài sản xảy ra rất thường xuyên và phức tạp với những thủ đoạn tinh vi của
tội phạm khi thực hiện hành vi phạm tội, đặc biệt là đối với những đoạn đường vắng
vẻ, không có đèn và ít nhà, đây là nơi lý tưởng của những tên tội phạm này. Hầu
hết, khi rơi vào trường hợp là nạn nhân của các vụ cướp hay cướp giật, mọi người
đều gọi chung là “cướp”. Nhưng cướp và cướp giật là hai hành vi hoàn toàn khác
nhau. Vậy, cướp và cướp giật tài sản khác nhau chỗ nào? Cùng tìm hiểu qua bài
viết sau đây:
![]() |
| Cướp và cướp giật tài sản khác nhau chỗ nào? (ảnh: Internet) |
Sơ lược chung về tội cướp
và cướp giật tài sản
Cả
hai tội cướp và cướp giật tài sản đều nằm trong chương XVI phần các tội xâm phạm
sở hữu được điều chỉnh trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
(sau đây gọi là Bộ luật hình sự). Theo đó, đây là những hành vi gây nguy hiểm
cho xã hội, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng, từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm với mọi
tội phạm) và có năng lực trách nhiệm hình sự (không phải đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình) thực hiện.
Các
tội phạm đều hướng đến mục đích là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản từ người
khác như vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền về tài sản.
Cả
hai hành vi cướp và cướp giật tài sản đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Tức là người gây ra hành vi cướp hoặc cướp giật tài sản, họ nhận thức được hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả và mong muốn hậu
quả xảy ra.
Điểm khác biệt giữa tội
cướp và cướp giật tài sản
Căn
cứ theo quy định tại Điều 168 (về tội cướp tài sản) và Điều 171 (về tội cướp giật
tài sản) Bộ luật hình sự. Có thể đưa ra 03 tiêu chí để phân biệt giữa tội cướp
và cướp giật tài sản như sau:
Thứ
nhất, xét về mục đích hướng đến của tội phạm:
Đối
với hành vi cướp tài sản, mục đích chính người phạm tội hướng đến là tài sản.
Nhưng để thực hiện mục đích đó, người phạm tội phải tác động đến người đang quản
lý tài sản. Tức là hành vi cướp tài sản phải tác động đồng thời lên hai đối tượng
là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Đối
với hành vi cướp giật tài sản, đối tượng mà người phạm tội hướng đến chỉ duy nhất
là tài sản, đặc biệt là với những tài sản nhỏ gọn (như túi xách, điện thoại di
động, laptop, dây chuyền, …) hay những tài sản dễ di chuyển (như xe máy, xe ô
tô, …).
Thứ
hai, xét về biểu hiện bên ngoài của tội phạm:
Đối
với tội cướp tài sản, đây là tội phạm có cấu thành cắt xén. Do đó, hành vi thể
hiện cấu thành tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay
tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng
không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
![]() |
| Một điểm khác biệt đó là cướp tài sản thì dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực (ảnh: Internet) |
- Dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào người khác nhằm làm cho người này lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Có nghĩa là hành vi dùng vũ lực phải làm cho nạn nhân không thể chống cự hoặc chống cự nhưng không có kết quả hoặc bị tê liệt ý chí và không giám chống cự. Cụ thể như các hành vi đánh, trói, chém, bắn, …
- Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc cử chỉ dọa sẽ dùng vũ lực nhằm làm cho nạn nhân không dám chống cự.
- Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi dùng mọi phương pháp, thủ đoạn khác nhau làm nạn nhân không thể chống cự lại hành vi chiếm đoạt tài sản như cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc mê, gây tê, …
Chỉ
cần thực hiện một trong các hành vi trên, cho dù người phạm tội chưa chiếm được
tài sản thì tội phạm vẫn được xem là đã hoàn thành.
Trái
với tội cướp tài sản, cướp giật tài sản có cấu thành tội phạm vật chất. Tức là
tội phạm hoàn thành khi người phạm tội giật được tài sản ra khỏi người đang quản
lý tài sản một cách công khai và nhanh chóng. Trong trường hợp người phạm tội bị
truy đuổi nên bỏ tài sản để chạy trốn hoặc bị người truy đuổi lấy lại tài sản
thì tội phạm vẫn được coi là đã hoàn thành.
Mặt
khác, tội cướp giật tài sản không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành
vi khác khiến người đang quản lý tài sản không thể chống cự được như tội cướp
tài sản, mà là lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo
ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh
chóng tẩu thoát, cho dù trong quá trình cướp giật tài sản, có thể người phạm tội
có sử dụng sức mạnh xâm phạm đến thân thể của người khác nhưng mục đích là để
giật, giành lấy tài sản chứ không nhằm làm cho nạn nhân không thể chống cự được
hoặc làm tê liệt ý chí của họ để chiếm đoạt tài sản.
Thứ
ba, xét về phản ứng của nạn nhân:
Đối
với cướp tài sản, nạn nhân có thời gian và khả năng chống cự lại khi đang dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các hành vi khác xâm hại.
Đối
với cướp giật tài sản, nạn nhân hoàn toàn bất ngờ với hành vi xâm phạm của tội
phạm và không có thời gian phòng bị.
Ngoài
ra, hình thức xử phạt giữa hai tội là khác nhau đã được quy định cụ thể và chi
tiết trong Bộ luật hình sự.
Các trường hợp chuyển
hóa tội danh giữa cướp và cướp giật tài sản
Trong
trường hợp người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được
tài sản nhưng bị truy đuổi nên đã dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc
nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản thì chuyển hóa từ tội cướp giật sang tội cướp
tài sản (dù cho dùng vũ lực nhưng vẫn chiếm đoạt không thành).
![]() |
| Các trường hợp chuyển hóa tội phạm của tội cướp và cướp giật (ảnh: Internet) |
Trong
trường hợp người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản nhưng bị truy đuổi nên
đã có hành vi hành hung nhưng không nhằm tái chiếm đoạt mà nhằm tẩu thoát thì vẫn
phạm tội cướp giật tài sản nhưng có tình tiết định khung tăng nặng là hành hung
để tẩu thoát (theo khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự).
Hy
vọng những thông tin trên đây đã giúp mọi người hình dung cơ bản giữa cướp và
cướp giật khác nhau chỗ nào. Để phân biệt giữa hai tội danh cướp và cướp giật
tài sản, chúng ta cần xét đến đối tượng hướng đến của tội phạm, hành vi biểu hiện
ra bên ngoài của tội phạm (có phải là hành vi công khai; không hay có sử dụng
vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc những hành vi khác khiến nạn nhân lâm vào
tình trạng không thể kháng cự được) và phản ứng của nạn nhân khi đó.
Nếu
bạn có bất kỳ vấn đề nào cần trao đổi, tư vấn thêm, vui lòng liên hệ tôi hoặc
Luật sư để nhận được tư vấn tốt nhất.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét